I - SỰ BIẾN ĐỔI TÍNH KIM LOẠI, TÍNH PHI KIM CỦA CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC1. Tính kim loại, tính phi kimTính kim loại là tính chất của một nguyên tố mà nguyên tử của nó dễ nhường electron để trở thành ion dương.
Nguyên tử của nguyên tố nào càng dễ nhường electron, tính kim loại của nguyên tố đó càng mạnh.
Tính phi kim là tính chất của một nguyên tố mà nguyên tử của nó dễ nhận thêm electron để trở thành ion âm.
Nguyên tử của nguyên tố nào càng dễ nhận electron, tính phi kim của nguyên tố đó càng mạnh.
Thực
ra không có ranh giới rõ rệt giữa tính kim loại và tính phi kim. Một
cách tương đối, trong bảng tuần hoàn các nguyên tố kim loại và phi kim
được phân cách bằng đường kẻ đậm (xem bảng tuần hoàn trang $41$) . Bên
phải là các nguyên tố phi kim, bên trái là các nguyên tố kim loại.
2. Sự biến đổi tính kim loại, tính phi kim
Trong
mỗi chu kì, theo chiều tăng của điện tích hạt nhân, tính kim loại của
các nguyên tố giảm dần, đồng thời tính phi kim tăng dần.
Thí dụ:
Chu kì $3$ bắt đầu từ nguyên tố $natri (Z=11)$ , một kim loại điển
hình, rồi lần lượt đến $magie (Z=12)$ là kim loại mạnh nhưng hoạt
động kém $natri$. Nhôm $(Z=13)$ là kim loại nhưng hiđroxit của nó đã
có tính lưỡng tính.
$Silic (Z=14)$ là phi kim.Từ $photpho
(Z=15)$ đến lưu huỳnh $(Z=16)$, tính phi kim mạnh dần, $clo (Z=17)$
là một phi kim điển hình.
Quy luật trên được lặp lại đối với mỗi chu kì.
Có thể giải thích quy luật biến đổi tính chất trên như sau:
Trong
một chu kì, theo chiều tăng của điện tích hạt nhân (từ trái sang phải)
thì năng lượng ion hóa, độ âm điện tăng dần đồng thời bán kính nguyên tử
giảm dần làm cho khả năng nhường electron giảm nên tính kim loại giảm,
khả năng nhận electron tăng nên tính phi kim tăng.
Trong một nhóm
$A$, theo chiều tăng của điện tích hạt nhân tính kim loại của các
nguyên tố tăng dần, đồng thời tính phi kim giảm dần.
Thí dụ: nhóm $IA$ và nhóm $VIIA$.
Trong
nhóm $IA:$ Tính kim loại tăng rõ rệt từ $liti (Z=3)$ đến $xesi
(Z=55)$ tức là khả năng nhường electron tăng dần. Nhóm $VIIA$ (nhóm
halogen) gồm những phi kim điển hình: Tính phi kim giảm dần từ $flo
(Z=9)$ đến $iot (Z=53)$, tức là khả năng nhận electron giảm dần.
Quy luật đó được lặp lại đối với các nhóm $A$ khác và được giải thích như sau:
Trong
một nhóm $A$, theo chiều tăng của điện tích hạt nhân (từ trên xuống
dưới) thì năng lượng ion hóa, độ âm điện giảm dần đồng thời bán kính
nguyên tử tăng nhanh làm cho khả năng nhường electron tăng, nên tính kim
loại tăng, khả năng nhận electron giảm, nên tính phi kim giảm.
Tính
kim loại, tính phi kim của các nguyên tố phụ thuộc chủ yếu vào cấu hình
electron nguyên tử. Cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố trong
bảng tuần hoàn có tính biến đổi tuần hoàn nên tính kim loại, tính phi
kim biến đổi tuần hoàn.
Nhận xét: Tính kim loại, tính phi kim của các nguyên tố nhóm $A$ biến đổi tuần hoàn theo chiều tăng của điện tích hạt nhân.
II - SỰ BIẾN ĐỔI VỀ HÓA TRỊ CỦA CÁC NGUYÊN TỐTrong
một chu kì, đi từ trái sang phải, hóa trị cao nhất của các nguyên tố
với oxi tăng lần lượt từ $1$ đến $7$, còn hoá trị với hiđro của các
phi kim giảm từ $4$ đến $1$.
Thí dụ: Trong chu kì $3$, ba
nguyên tố đầu chu kì $(Na, Mg, Al)$ tạo thành hợp chất oxit trong đó
các nguyên tố có hóa trị lần lượt là $1, 2, 3$. Các nguyên tố tiếp
theo $(Si, P, S, Cl)$ có hóa trị lần lượt là $4, 5, 6, 7$
trong oxit cao nhất.
Các nguyên tố phi kim $Si, P, S, Cl$ tạo
được hợp chất khí với hiđro, trong đó chúng có hóa trị lần lượt là $4,
3, 2, 1$.
Đối với các chu kì khác, sự biến đổi hóa trị của các nguyên tố cũng diễn ra tương tự (bảng $2.4$)
Bảng $2.4$
Sự biến đổi tuần hoàn hóa trị của các nguyên tố ở chu kì $2$ và $3$
Nhận
xét:
Hóa trị cao nhất của một nguyên tố với oxi, hóa trị với hiđro của
các phi kim biến đổi tuần hoàn theo chiều tăng của điện tích hạt nhân.
III - SỰ BIẾN ĐỔI TÍNH AXIT - BAZƠ CỦA OXIT VÀ HIĐROXIT TƯƠNG ỨNGTính axit - bazơ của oxit và hiđroxit tương ứng của các nguyên tố ở chu kì $2$ và $3$ được trình bày trong bảng $2.5$.
Bảng $2.5$
Tính axit - bazơ của oxit và hiđroxit tương ứng của các nguyên tố ở chu kì $2$ và $3$
Trong
một chu kì, theo chiều tăng của điện tích hạt nhân, tính bazơ của oxit
và hiđroxit tương ứng giảm dần, đồng thời tính axit của chúng tăng dần.
Trong
một nhóm $A$, theo chiều tăng của điện tích hạt nhân, tính bazơ của
các oxit và hiđroxit tương ứng tăng dần, đồng thời tính axit của chúng
giảm dần.
Nhận xét: Tính axit - bazơ của các oxit và hiđroxit tương
ứng của các nguyên tố biến đổi tuần hoàn theo chiều tăng của điện tích
hạt nhân nguyên tử.
IV - ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀNĐịnh luật tuần hoàn được phát biểu như sau:
"Tính
chất của các nguyên tố và đơn chất cũng như thành phần và tính chất của
các hợp chất tạo nên từ các nguyên tố đó biến đổi tuần hoàn theo chiều
tăng của điện tích hạt nhân nguyên tử."